Âm lịch Việt Nam
Ngày âm được xác định từ thời điểm Sóc (trăng non) và các Trung khí của Mặt Trời, quy đổi theo múi giờ Việt Nam GMT+7. Đây là phần nền cần chính xác trước khi tính Can Chi và các hệ khác.
Trang tách rõ phần lịch thiên văn và phần quy ước chọn ngày truyền thống. Điều này giúp tránh tình trạng một chỉ dấu dân gian bị trình bày như kết luận tuyệt đối.
Ngày âm được xác định từ thời điểm Sóc (trăng non) và các Trung khí của Mặt Trời, quy đổi theo múi giờ Việt Nam GMT+7. Đây là phần nền cần chính xác trước khi tính Can Chi và các hệ khác.
Dựa trên Địa Chi ngày và tháng âm để an 12 sao: Thanh Long, Minh Đường, Thiên Hình, Chu Tước, Kim Quỹ, Kim Đường, Bạch Hổ, Ngọc Đường, Thiên Lao, Nguyên Vũ, Tư Mệnh, Câu Trần.
Kiến → Trừ → Mãn → Bình → Định → Chấp → Phá → Nguy → Thành → Thu → Khai → Bế. Santa Lịch dùng Nguyệt kiến theo tiết khí; Trực Kiến xuất hiện khi Chi ngày trùng Chi tháng tiết khí.
Chu kỳ 28 sao được hiển thị như một hệ đối chiếu riêng. Phần “nên/kỵ” có dị bản giữa các lịch thư, nên trang không dùng nó một mình để phán một ngày “đại cát” hay “đại hung”.
Đại An → Lưu Niên → Tốc Hỷ → Xích Khẩu → Tiểu Cát → Không Vong. Tháng Giêng khởi Đại An, các tháng và ngày tiếp tục tuần tự theo vòng sáu cung.
Mỗi hai tổ hợp Can Chi liên tiếp dùng chung một Nạp Âm, từ Giáp Tý – Ất Sửu (Hải Trung Kim) đến Nhâm Tuất – Quý Hợi (Đại Hải Thủy).
Khi người dùng nhập năm tuổi âm lịch và giới tính, Santa Lịch xác định Quái số/Cung Phi rồi hiển thị Đông/Tây tứ mệnh cùng 4 hướng cát và 4 hướng hung. Phần này được tách khỏi thuật toán chọn ngày.
Ngày truyền thống có thể là một lớp tham khảo văn hóa, nhưng không nên lấn át điều kiện thực tế. Khi chọn ngày cho cưới hỏi, khai trương, xây dựng hay đi xa, hãy ưu tiên lịch của những người liên quan, thời tiết, pháp lý, an toàn, tài chính và khả năng tổ chức; sau đó mới dùng các hệ lịch thư để tham khảo thêm.